Trang chủ » Bài viết » Tác dụng không ngờ của đậu nành cho gia đình bạn

Tác dụng không ngờ của đậu nành cho gia đình bạn

Đậu nành còn có tên là đậu tương dùng làm thực phẩm. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, đậu nành chứa rất nhiều chất dinh dưỡng tốt cho cơ thể

Trong hạt đậu nành chứa hầu hết các loại vitamin như: B1, B2, PP, A, D, K… Riêng trong giá đậu nành có tỉ lệ vitamin C khá cao. Đậu nành là một thức ăn rất cần thiết cho trẻ chậm phát triển, những người bị bệnh đái đường, phong thấp, gút, do giá trị dinh dưỡng cao, ít gluxít sinh glycogen.

Người ta dùng đậu nành nguyên hạt hay đã làm thành bột. Nếu dùng bột thì tránh không nên dùng những thứ đã bị hút hết chất dầu, vì như thế nghĩa là đã mất những chất béo cũng như các vitamin hòa tan trong dầu.

Đáng lưu ý, sữa đậu nành chứa rất nhiều chất dinh dưỡng và nhiều loại axít amin giống như sữa bò. Với đậu nành, ta có thể làm được nhiều món ăn vừa ngon vừa rất bổ dưỡng. Người ta còn dùng đậu nành để làm tương, làm bột dinh dưỡng, làm sữa đậu nành.

Gần đây y học thế giới phát hiện ra nhiều tác dụng chữa bệnh của đậu nành. Đây là kết luận được các chuyên gia Mỹ đưa ra trong hội nghị về khai thác giá trị dinh dưỡng từ đậu nành đối với sức khỏe con người tại Viện Dinh dưỡng thuộc Đại học Columbia (Mỹ)

Đậu nành tốt cho cơ thể

Tác dụng của đậu nành

  • Ngừa ung thư vú ở phụ nữ

Một cuộc khảo sát của các nhà khoa học thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) cho thấy bổ sung đậu nành ở mức độ vừa phải giúp giảm nguy cơ bị ung thư vú. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, dùng 3 khẩu phần đậu nành mỗi ngày đem lại nhiều ích lợi cho phụ nữ có nguy cơ hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư vú.

Bổ sung 20-133g protein từ đậu nành mỗi ngày có thể giúp giảm 7-10% hàm lượng cholesterol xấu LDL trong cơ thể.

  • Tác dụng trên tim mạch

Dùng đậu nành là một phần của chế độ dinh dưỡng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Đậu nành và các chất chiết từ đậu nành có tác dụng giảm huyết áp tâm trương, giảm cholesterol toàn phần, giảm cholesterol xấu (tức LDL-cholesterol), ngăn chặn sự tiến triển của các mãng xơ vữa, cải thiện tính đàn hồi của động mạch.

  • Cung cấp đủ dưỡng chất

Các chuyên gia dinh dưỡng khẳng định chế phẩm từ đậu nành rất giàu dinh dưỡng và ăn một khẩu phần đậu nành mỗi ngày giúp bổ sung đầy đủ dưỡng chất. “Đậu nành cung cấp nhiều chất quan trọng như kali, ma-giê, chất xơ, chất chống ô-xy hóa”

  • Điều trị chứng mãn kinh

Triệu chứng của mãn kinh khởi đầu từ 3-5 năm trước khi mãn kinh thực sự, tiếp tục tăng vào tuổi mãn kinh và 4-5 năm sau mãn kinh, chỉ ngừng khi cơ thể thích nghi với cân bằng hormon mới. Các triệu chứng thường thấy là bốc hỏa, đổ mồ hôi, mất ngủ, trầm cảm, đái dầm, lão hóa da, rụng tóc, bệnh tim mạch, suy giảm nhận thức…

Liệu pháp thay thế hormon có hiệu lực cao nhưng cũng có nhiều tai biến (rối loạn nội tiết, ung thư…) nên không kéo dài quá 5 năm. Phụ nữ phương Đông, so với các nước phương Tây, ít phàn nàn về các rối loạn của mãn kinh. Nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các dân tộc phương Đông dùng nhiều đậu nành với nhiều cách chế biến khác nhau.

Gần đây, người ta phát hiện thấy trong hạt đậu nành có isoflarm còn gọi là estrogen thực vật (phytoestrogen); hoạt chất này góp phần làm cân bằng hormon ở phụ nữ mãn kinh, cải thiện rõ rệt các triệu chứng khác của tuổi mãn kinh như: Bốc hỏa, đổ mồ hôi đêm, trầm cảm, khô âm đạo…

  • Tác dụng chuyển hoá xương

Thống kê dịch tễ học cho thấy: Tỷ lệ gãy xương ở phụ nữ châu Á thấp hơn rõ rệt so với phụ nữ ở các nước phương Tây. Kết quả này có liên quan tới sử dụng nhiều thức ăn chế biến từ đậu nành. SI (isoflarm của đậu nành) làm tăng mật độ khoáng tại các đốt sống 1,2 đến 1,4 lần (so sánh với phụ nữ dùng thức ăn ít có đậu nành).

Genistein trong đậu nành làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự tổn thương tế bào, và chất ức chế Protease BowmanBirk có trong Protein đậu nành,

  • Tác dụng trên các khối u phụ thuộc và hormon

Thống kê dịch tễ học cũng cho thấy một số loại khối u phụ thuộc vào hormon (ở màng trong tử cung, ở vú, buồng trứng…) có tỷ lệ rất thấp ở phụ nữ châu Á. Nhận xét này có liên quan tới chế độ ăn giàu đậu nành ở công dân châu Á. Kết quả nghiên cứu về thực nghiệm và lâm sàng cho thấy SI (isoflarm ở đậu nành) có tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư ở tử cung, vú và buồng trứng. Hướng nghiên cứu này đang được tiếp tục.

  • Ung thư

Genistein trong đậu nành làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự tổn thương tế bào, và chất ức chế Protease BowmanBirk có trong Protein đậu nành cũng có thể ức chế sự khởi phát ung thư. Chất Daidzein trong Protein đậu nành, nếu được sử dụng với liều cao sẽ có tác dụng kích thích hệ thống miễn dịch, để phá hủy những chất có hại cho cơ thể, do đó có tác động lên việc giảm nguy cơ bị ung thư.

  • Xương khớp

Xương muốn chắc khỏe phải nhờ caxi, nhưng điều quan trọng không phải là lượng caxi đưa vào cơ thể, mà là cơ thể có giữ được caxi lại đủ để làm cho xương chắc khỏe không?

Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng những phụ nữ dùng nhiều đạm động vật sẽ gây mất caxi qua nước tiểu, do đó sẽ có nguy cơ gãy xương nhiều hơn là những phụ nữ dùng Protein thực vật. Nghiên cứu cho thấy rằng dùng Protein đậu nành, đặc biệt là Isoflavones có thể có tác động tốt lên đậm độ khoáng trong xương ở những phụ nữ mãn kinh mà không dùng Ostrogen thay thế.

Đậu nành dùng trong dinh dưỡng và công nghiệp

Trong dinh dưỡng bột đậu nành trộn với bột ngũ cốc, người bị bệnh đái tháo đường, bệnh gút… Trong công nghiệp dược, bột đậu nành dùng trong môi trường nuôi cấy kháng sinh. Thống kê cho thấy trong 100 ngàn tấn acid glutamic dùng trên thế giới, 1/3 do thủy phân đậu nành.

Do có sự cân bằng giữa tác dụng điều trị và độ an toàn, lại dễ sử dụng nên physoestrogen của đậu nành được xếp vào loại “chất bổ dinh dưỡng”, không cần đơn kê của thầy thuốc.

Tác hại của đậu nành

  • Ngăn chặn hấp thu dưỡng chất

Đậu nành và sữa đậu nành không lên men thường chứa hàm lượng acid phytic khá cao, thường có ở vỏ hạt. Acid phytic gây cản trở sự hấp thu qua ruột của một số loại vitamin và khoáng chất thiết yếu như canxi, i-ốt, magie, sắt, kẽm. Điều này được cho là dẫn đến sự thiếu hụt các khoáng chất kể trên trong cơ thể, ngay cả khi bạn đã áp dụng một chế độ ăn đầy đủ dưỡng chất.

Bên cạnh đó, enzyme inhibitors trong đậu nành cũng ngăn cản hoạt động của trypsin và các enzyme khác (những chất cần thiết cho quá trình hấp thu chất protein), dẫn đến thiếu hụt chất đạm trong cơ thể.

  • Giảm tổng hợp hormone tuyến giáp

Đã có không ít tài liệu chứng minh chất isoflavone trong sữa đậu nành có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tổng hợp hormone tuyến giáp ở những người sử dụng thường xuyên.

Để sản xuất ra được loại hormone này, tuyến giáp cần sử dụng enzyme peroxidase để ôxy hóa i-ốt. Trong khi đó, chất isoflavone có trong sữa đậu nành lại ức chế và làm cản trở hoạt động của enzyme peroxidase. Và hệ quả là, lượng hormone tuyến giáp bị giảm sút, gây ra các triệu chứng như: cơ thể mệt mỏi, thờ ơ, rụng tóc, trí nhớ kém và bệnh bướu cổ.

Ngoài ra, isoflavones còn là nghi can trong việc hình thành các cục đông máu, thủ phạm của những cơn đau tim và đột quỵ. Chất này được cho là có thể gây ức chế tập tiểu cầu hoặc vón cục gây đông máu.

Tác dụng của đậu nành

  • Dị ứng ở trẻ em

Mặc dù, dị ứng đậu nành không thường xuyên và không nghiêm trọng đến mức phải điều trị tại bệnh viện nhưng nó có thể gây tiêu chảy, ói mửa, đau dạ dày. Những bà mẹ đang có ý định cho con uống sữa đậu nành thay thế sữa bò (do dị ứng sữa bò) cần cẩn trọng. Có tới 30-50% trẻ em bị dị ứng với công thức sữa bò cũng dị ứng sữa đậu nành.

Ngoài ra, sử dụng sữa đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành thường xuyên có thể khiến cho bé bị thừa mangan, gây tổn thương thần kinh. Vì cây đậu nành hấp thụ một lượng lớn mangan từ đất trồng, sữa đậu nành thường nhiều mangan gấp 200 lần so với sữa mẹ.

  • Dậy thì sớm ở bé gái và “nữ tính hóa” ở bé trai

Đậu nành rất tốt cho phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh vì phyto-estrogen (một loại hormone thực vật) trong đậu nành có thể thay thế lượng hormone estrogen (nội tiết tố nữ) bị mất trong cơ thể, giúp giảm bớt các triệu chứng khó chịu trong thời kỳ này. Nhưng, loại hormone thực vật này lại không tốt cho trẻ em.

Các loại hormone thực vật này có thể bắt chước hormone estrogen trong cơ thể. Và đó chính là lý do khiến đậu nành bị nghi ngờ có liên quan đến hiện tượng dậy thì sớm ở các bé gái. Bác sỹ nhi khoa khuyến cáo, nếu bé gái ăn nhiều đậu nành sẽ khiến phát triển núi đôi và lông mu sớm (trước khi bé được 8 tuổi).

Bên cạnh kích thích dậy thì sớm, estrogen còn ức chế sự phát triển testosterone bình thường ở nam giới nói chung và các bé trai nói riêng, gây ra những thay đổi trong quá trình phát triển tính cách của trẻ.

  • Giảm quân số “đội tinh binh”

Một số tài liệu còn cho rằng, estrogen trong đậu nành có liên quan đến việc giảm số lượng tinh trùng ở nam giới, làm giảm khả năng có con. Vì vậy những tài liệu này khuyên các quý ông phải ngưng ăn đậu nành trước 3 tháng nếu muốn có con. Họ cho rằng, cách chế biến cổ truyền có lên men (ví dụ làm đậu tương) sẽ tốt hơn là phương pháp sản xuất công nghiệp, nhất là không cho lên men.

Những người có khẩu phần ăn mà trong đó đậu nành chiếm một nửa lượng thực phẩm, duy trì trong 3 tháng sẽ khiến lượng tinh trùng bị giảm xuống, thấp hơn 41 triệu/ml so với những người không ăn đậu nành.

Mặc dù chưa xác định rõ nguyên nhân nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng đậu nành làm tăng lượng hormone estrogen, gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng sản xuất tinh trùng và làm rối loạn việc sản xuất một số hormone khác. Tuy nhiên, đây vẫn là vấn đề đang gây tranh cãi và chưa có kết luận cuối cùng.

  • Không phù hợp với bệnh nhân gút, dạ dày, sỏi thận

Lượng purine có trong sữa đậu nành có thể trở thành mối nguy hiểm đối với bệnh nhân gout, căn bệnh gây ra bởi sự rối loạn chuyển hóa purine. Uống sữa đậu nành có thể khiến niêm mạc của bạn bị kích ứng, gây ra đau dữ dội, sưng và viêm.

Ngoài ra, người bị viêm dạ dày cấp và mạn tính, loét dạ dày, viêm thận, sỏi thận cũng không nên dùng sữa đậu nành. Uống sữa đậu nành dễ gây ra tình trạng dư thừa acid trong dạ dày, gây đầy hơi. Oxalat có trong sữa đậu nành cũng rất dễ kết hợp với calci trong thận tạo ra sỏi thận.